Lịch sử

Phả ký

PHẢ KÝ

Mỗi người trong chúng ta, khi lớn lên đều thấm nhuần đạo lý “Chim có tổ, người có tông” ”Uống nước nhớ nguồn”. Ai cũng có tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cũng như dòng sông con suối luôn luôn có cội nguồn của nó. Nếu làm người mà không biết rõ tông tích của tổ tiên, khác nào như cây không có gốc, như nước chẳng có nguồn, giống như, những chiếc lá buông trôi dập dềnh theo dòng nước bao la vô tận.

Do vậy, người Việt Nam từ ngàn xưa đến thế hệ chúng ta ngày nay rất tôn trọng lễ nghĩa. Dù ở đâu, bất cứ làm gì, mỗi gia đình đều có bàn thờ tổ tiên để thờ phụng và giỗ chạp. Theo đó, cuốn Gia phả là kỷ vật quí báu nhất trong mỗi chi phái, mỗi gia đình.

Chỉ cần lần mở từng trang Gia phả thì cả một thế hệ của một Gia tộc được hiện ra rõ ràng. Con cháu cần soi vào đó mà vun đắp nền gia phong, giữ lấy đạo nghĩa.

Tuy nhiên, ta chớ xem việc chép Gia phả là khó khăn, tẻ nhạt mà vội bỏ qua. Vì Gia phả, không những liên quan đến sự sống chết của người xưa và hôm nay, mà còn liên quan đến sự tồn tại của nhiều thế hệ mai sau. Do vậy, nói đến gia phả chính là muốn khơi rộng tâm tư, ý thức về nguồn gốc tộc họ trong mỗi con người.

Vậy Gia phả là gì ? Theo hiểu biết thông thường trong dân gian thì Gia phả là tập sách riêng của mỗi gia tộc, mỗi nhà. Dùng để ghi chép tên tuổi, ngày tháng năm sinh, nơi ở, (nếu là người đã chết thì ghi phần mộ và ngày giỗ) của những thế hệ trước và bây giờ.

Như vậy, chúng ta cần lưu ý ghi chép cho đúng thứ lớp và liên tục từ đời này đến đời khác, nó được thể hiện trên sự thống nhất chung từ trên xuống dưới, chính xác một cách tuyệt đối về thứ lớp, để con cháu đời sau hiểu rõ, lấy đó làm gốc rễ mà tiếp bút sau này. Định hướng ấy là gia đình, gia tộc.
Tiêu chuẩn ấy là tư tưởng hành động của tổ tiên trong dĩ vãng. Nhờ vậy, mà bây giờ con cháu đời sau có được sự hệ thống hoàn chỉnh về Gia phả.

Với sự hiểu biết và tìm tòi có hạn, nên cuốn Gia phả này chỉ chép từ ông HỒ ĐÌNH THUẬN đời thứ 7 tính từ tổ HỒ BÁ ĐIỀN trở xuống (Tính từ nguyên tổ HỒ HƯNG DẬT là đời thứ 24 còn tính từ tổ HỒ HỒNG là đời thứ 11).Từ đời thứ 2 (kể từ tổ Hồ Bá Điền) đến đời thứ 6 bị thất lạc do chiến tranh. Đến nay con cháu trong tộc chỉ biết sưu tầm những tư liệu của ông Hồ Lợi (ông Tư Xiêm đời 13) để lại, tuy chưa đầy đủ nhưng đó cũng là tiền đề để tiếp tục hoàn thiện cho cuốn Gia Phả này. Bên cạnh việc bổ sung của các ông đầu phái, chúng tôi còn tìm hiểu những tư liệu của tộc Hồ Việt Nam, tộc Hồ hiện ở Nghệ An, ở Bồ Bảng, Hòa Phong, ở Lệ Trạch, Duy Xuyên và tộc Hồ Quảng Nam. Nghiên cứu tư liệu các tộc cùng thời như tộc Phan ở Đà Sơn, tộc Trần, tộc Phan, ở làng Gia Cốc xưa, nay là thôn Đông Gia và Tây Gia xã Đại Minh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. (thôn Đông Gia kể từ năm 2019 đổi thành thôn Gia Huệ)

Qua đó, chúng ta biết được rằng: Tổ tộc HỒ làng Gia Cốc là ngài HỒ BÁ ĐIỀN (Hồ Qúi Công) cháu đời thứ 18 của nguyên tổ Hồ Hưng Dật, thuộc phái nhì của tộc HỒ làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông có thể là một trong hai người con của ông Hồ Trụ (sinh khoảng năm 1440 – 1450), gọi ông Hồ Bá Nhàn là ông nội. Ông Hồ Bá Nhàn là con trai trưởng ông Hồ Hữu Nhân và bà Nguyễn Thị Hà. (ông Hồ Hữu Nhân là con thứ của ông Hồ Hồng em ruột ông Hồ Hân ). Ông Hồ Trụ có hai người con trai, lớn lên gia nhập quân đội được sung vào quân vệ của chú là ông Hồ Đình Trung, ông cũng đã nhiều lần theo chú vào Nam đánh quân Chiêm Thành. Năm 1470, ông Hồ Đình Trung thua trận ở phủ Hoài Nhơn liền lui quân về bờ bắc sông Thu Bồn tạm nghỉ dưỡng quân thì nhận lệnh rút quân về Mộng Sơn. Thời gian sau ông mất tại quê nhà. Trước khi về Bắc ông ra lệnh cho hai cháu ông là Hồ Phúc Tâm và Hồ Chân Tính ở lại khai khẩn vùng đất Thăng Hoa nơi mà trước đây thường là vùng tranh chấp giữa người Việt và người Chiêm. (về sau không hiểu ông nào ở lại Thăng Hoa, ông nào ra đi và đi đâu không rõ). Như vậy thì ông là một trong bốn vị tiền hiền của làng Gia Cốc, cùng các ông thỉ tổ các tộc TRẦN, PHAN, tộc PHẠM đặt chân đến đầu tiên lập nghiệp và tạo dựng nên làng Gia Cốc (1470), nay là thôn Đông Gia và thôn Tây Gia. Khi trưởng thành ông lấy vợ là người họ Ngô. (các cứ liệu không nói rõ bà tên gì ở đâu. sinh hạ bao nhiêu người con…)

TheHodinh

Ngài là một trong bốn vị tiền hiền của làng, khi mất được dân làng thờ cúng cùng với ba ông tổ tộc Trần, tộc Phan và tộc Phạm tại đình làng Gia Cốc ngày nay ngôi đình hiện ở tại thôn Tây Gia và nhà Hội Hương làng Gia Cốc tại thôn Đông Gia, xã Đại Minh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Sau này ông cùng các ông tổ tộc Trần, tộc Phan được nhà Lê phong tặng: Ông tổ tộc Trần được sắc phong “Gia Cốc tiền hiền khai canh Trần Đại Lang nẫm trứ linh ứng”; Ông tổ tộc Hồ được sắc phong, “Gia Cốc tiền hiền khai cư Hồ Đại Lang nẫm trứ linh ứng’’; Ông tổ tộc Phan được sắc phong “Gia Cốc tiền hiền khai khẩn Phan Đại Lang nẫm trứ linh ứng”. Đến năm Gia Long thứ 13 được truy phong là: “Vi Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Thượng Đẳng thần’’. Song song với những tước phẩm trên nhà vua còn lập châu bộ điền thổ của làng, cấp ruộng đất cho những tộc họ có công lớn trong công cuộc mở mang bờ cõi. Tộc Hồ cũng được đứng bộ nhiều điền thổ ở Thổ Lự, Mã Canh và Cán Cờ thuộc đồng Tây Gia ngày nay.

Lưu ý: Trong gia phả tộc Hồ Diễn Châu có hai người tên là Trung là ông Hồ Hữu Trung và ông Hồ Đình Trung.