Lịch sử

Các thế hệ nối tiếp

CÁC THẾ HỆ NỐI TIẾP

A. TÔNG PHÁI HỌ HỒ Ở THANH HÓA

Vị thỉ tổ ở Thanh Hóa là ông Hồ Hữu Liêm cháu 12 đời của nguyên tổ Hồ Hưng Dật. Ông làm con nuôi quan tuyên úy ở hương Đại Lại là Lê Huấn. Sau ông đổi thành họ Lê. (Ông còn có người anh ruột ở lại Nghệ An tên là Hồ Hữu Khiêm). Con của Lê Liêm không rõ tên tuổi, lấy vợ là con gái họ Chu rồi sinh ra con cái, phát triển và sinh sống lâu dài tại đây. Người này Hồ Quý Ly gọi là ông nội, ông sinh rất nhiều con, ngoài người con trai đầu của ông lấy bà người họ Phạm sinh ra Hồ Qúi Ly, ông còn có hai người con gái đều lấy vua Trần Minh Tông. Người con gái lớn tên là Hồ Thuận Nương lấy vua Trần Minh Tông sinh ra vua Trần Hiến Tông và vua Trần Nghệ Tông, khi lên ngôi phong mẹ là Minh Từ Thái Hậu. Bà được vua Trần Minh Tông phong Nguyên Phi Anh Tư. Bà còn là bà nội của vua Trần Thuận Tông (1389-1398) và Trần Ngỗi (1407-1409), về sau được phong Thái Hoàng Thái Hậu mẫu nghi triều Trần. Người con út không rõ tên cũng lấy vua Trần Minh Tông sinh ra Trần Duệ Tông khi lên ngôi phong là Đôn Từ Hoàng Thái phi. (Hai người này Hồ Quý Ly gọi bằng cô ruột). Hồ Quý Ly còn có người em con chú lấy vua Trần Duệ Tông (1373-1376) được phong là Gia Từ Hoàng hậu bà sinh ra Trần Phế Đế (1377-1388).

Cháu bốn đời của Hồ Hữu Liêm (Lê Liêm) là Hồ Quý Ly sinh năm Ất Hợi (1335) lấy con gái Trần Minh Tông (em vua Trần Nghệ Tông) là công chúa Huy Ninh. Từ đó con đường quan lộ của Hồ Quý Ly phát triển rực rỡ, bắt đầu là từ khi Trần Phủ kéo quân từ Thanh Hóa về kinh thành, diệt Dương Nhật Lễ (con Dương Khương chiếm ngôi nhà Trần(1370) và lên ngôi tức là vua Trần Nghệ Tông. Kể từ thời gian này Hồ Quý Ly được Trần Nghệ Tông sử dụng và lần lược thăng chức nhanh.

Chi cục tứ hậu chánh chưởng thăng khu mật viện đại sứ (là một chức quan quản lãnh cấm quân, đứng đầu khu mật viện, tham dự bàn việc triều chính).
1370
Tham mưu quân sự.
1375
Tiểu tư không kiêm hành khu mật đại sứ (chức cao hơn khu mật đại sứ)
1379
Nguyên nhung Hành Hải Tây Đô thống chế.
1380
Đồng Bình Chương Sự (như tể tướng).
1387
Nhập nội phụ chính Thái sư bình chương quân quốc Trọng sự Trung tuyên vệ Đại Vương.
1395
Quốc tổ nhiếp chính khâm liệt Đại vương.
1398
Quốc tổ chương hoàng.
1399

Như vậy con đường làm quan với nhà Trần của Hồ Quý Ly là 30 năm, lúc ông vào triều các vua Minh Tông, Hiến Tông và hai cô ruột đã mất nên thật ra Hồ Quý Ly vào Triều là do Trần Nghệ Tông sắp xếp (quan hệ con cô con cậu) rồi sau đó mới có quan hệ em rể.

Năm Quang Thái thứ 8 vua Trần Thuận Tông lấy con gái trưởng Hồ Quý Ly là bà Hồ Thánh Ngẫu phong cho bà là Khâm Thánh Hoàng hậu, sau khi bà sinh ra Trần An tức là Trần Thiếu Đế.  Thời gian này ông gần như nắm toàn bộ quyền lực và định đoạt vận mệnh đất nước thời Trần mạt.

Đến năm 1400 Hồ Quý Ly ép cháu ngoại là Trần Thiếu Đế nhường ngôi, lập ra triều đại nhà Hồ (1400-1407). Đổi tên nước là Đại Ngu (Ngu Thuấn là gốc Hồ). Khi giặc Minh xâm lăng, nhà Hồ thất bại, mấy cha con bị bắt đưa về Kim Lăng. Riêng cháu nội ông là Hồ Quý Vương con của ông Hồ Nguyên Trừng được cận thần dấu kín đưa vào Nghệ An ở với người trong tộc. Sau này ông Hồ Quý Vương sinh con đặt tên là Hồ Quý Công theo vua Lê vào Nam đánh Chiêm Thành, đến năm 1474 ông xin ở lại khai cơ lập nghiệp tại Phù Sa, Ba Châu nay là làng Lệ Trạch huyện Duy Xuyên, Quảng Nam và ông cũng chính là vị thỉ tổ tộc Hồ tại đây, là cháu đời thứ 18 của trạng nguyên Hồ Hưng Dật (cùng thời với vị thỉ tổ làng Gia cốc).

B. TÔNG PHÁI HỌ HỒ Ở NGHỆ AN

Vị thỉ tổ ở Diễn Châu Nghệ An là ông Hồ Hữu Khiêm anh ruột của ông Hồ Liêm (Lê Liêm). Ông Hồ Hữu Khiêm sinh ra ông Hồ Kha (1325) tại làng Mộng Sơn, ấp Qùi Trạch, huyện Đông Thành, nay là làng Đông Nhân xã Mã Thành huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An, là cháu 13 đời của nguyên tổ Hồ Hưng Dật. Ông Hồ Kha nhìn thấy nơi đang ở  không tốt nên tìm về đất Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An, ở đây có địa thế đẹp, vùng đất trù phú, ông liền chiêu dân cho khai khẩn thành Thổ Đôi Trang năm 1378. Rồi giao lại cho hai người con trai là cụ Hồ Hồng và cụ Hồ Cao định cư phát triển. Cũng tại đây ông xây dựng nhà thờ tộc ở làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu để con cháu hương khói và cúng tế cho đến ngày nay. Ông Hồ Kha là quan võ dưới thời Trần Minh Tông. Ông là người có công khai phá Thổ Đôi Trang là Thái thủy tổ họ Hồ, được dân làng Quỳnh Đôi rước vào hợp tế ở đền  thần từ năm Quí Hợi 1803 và được triều đình nhà Nguyễn phong là  “Dực bảo Trung hưng thần’’ (sắc phong của vua Khải Định năm thứ 9 ngày 25 tháng 7 năm 1924).

Người con trai trưởng của ông Hồ Kha là ông Hồ Hồng ông sinh khoảng từ năm 1350-1360 hiệu là Phúc Thiện, là anh ruột ông Hồ Cao, thuộc đời thứ 14 của nguyên tổ Hồ Hưng Dật, thời vua Trần Dụ Tông  làm quan đến chức chánh Đội trưởng chỉ huy trên 2.000 quân vào trấn giữ Tân Bình. Năm 1396 ông tham gia đánh Chiêm Thành và hy sinh trên đất Thuận Hóa. Khi ông mất vì thi hài không đưa được về quê nên họ Hồ Quỳnh Đôi chiêu hồn vọng tán. Đến nay đã xác định được hai nơi có lăng mộ ông. Đó là lăng mộ tại An Truyền nay là huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Đến đời Tây Sơn ông Hồ Công Thuyên (tức Công Xuân) là võ tướng của Tây Sơn đem về chôn cất ở Cẩm Sa, xã Điện Nam, Điện Bàn, Quảng Nam. Nhưng đến triều Nguyễn họ Hồ ở An Truyền lại rước về xây lăng mộ ở An Truyền. Khi còn trấn giữ vùng đất Thuận Hóa nay là xã An Cựu, Thừa Thiên – Huế, ông có thêm thứ thất và sinh rất nhiều con  tại đây. Sau này khi ông mất vua Khải Định phong sắc là Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần, nhà vua còn cho xây thành và lăng mộ ở Quảng Bình. (từ trước đên nay, Quốc sử (ĐVSKTT) không ghi về ông Hồ Hồng mà chỉ nói đến ông Hồ Cương như sau: “Mùa xuân tháng giêng năm Quí Dậu 1393 vua Trần Thuận Tông phong Hồ Cương làm giám quân Tả thánh dực, đến mùa đông tháng 10 năm Bính Tý 1396 phong ông làm Đại tri châu lộ Diễn Châu’’ (ĐVSKTT trang 218). Do đó những tài liệu cho rằng ông Hồ Hồng và ông Hồ Cương là một ông là không đúng.

Người con thứ ông Hồ Kha là ông Hồ Cao hiệu là Thái Thủy bà không rõ họ tên, ông bà chiêu dân khai khẩn gò Trèm, lập ra ấp Trang Cuồi nay là xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An.

Ở Nghệ An ông Hồ Hồng có hai người con trai tên là Hồ Hân và Hồ Hữu Nhân (sinh khoảng năm 1370 – 1380), khi cha hy sinh ông Hồ Hân ở lại xây dựng Thổ Đôi Trang rồi sau đó ra Thanh Hóa gia nhập nghĩa quân Lê Lợi (1418) giữ tước Quản Lĩnh Hầu (Tả Quốc công thần Lam Sơn khởi nghĩa 1428), một thời gian sau ông xin từ quan để về lại Thổ Đôi Trang chiêu dân lập ấp. Năm 1429 vua Lê Thái Tổ xuống chiếu cho tất cả các con của quan đã từ chức từ 9-15 tuổi được vào hầu Hoàng Thái Tử và cho vào học ở trường Quốc tử giám, vì vậy con trai trưởng của ông là ông Hồ Ước Lễ vào học tại đây và đậu tiến sĩ năm 1449, rồi ra làm quan đời vua Lê Nhân Tông. Sau đó lấy con gái tiến sĩ Lê Khắc Nhân là bà Lê Thị Ngọc Thảo. Ông bà có người con trai trưởng tên là Hồ Khắc Cẩn cũng là quan võ triều Lê. Con thứ ông Hồ Hồng là ông Hồ Hữu Nhân.

Ông Hồ Hữu Nhân sinh khoảng vào năm 1385 – 1390, con trai thứ của chánh đội trưởng liệt sĩ Hồ Hồng, là em ruột của quản lĩnh hầu Hồ Hân, là cháu 15 đời của trạng nguyên Hồ Hưng Dật. vợ ông là bà Nguyễn Thị Hà.

Khi quân Minh xâm lăng nước ta, ông cùng anh bí mật luyện tập võ nghệ chờ ngày khởi sự. Khi hay tin Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, anh ông là Hồ Hân lập tức tham gia, còn ông ở lại quê nhà chăm lo trang trại.

Năm 1420 được tin Lê Lợi chiến thắng ở Bồ Mộng, Mường Thôi và được biết anh trai hiện là tướng tham mưu trong nghĩa quân Lê Lợi ông liền bí mật ra Lam Sơn tham gia. Trải qua nhiều trận đánh, nào là bảo vệ trại Ba Lẫm và ải Kình Lăng, đánh trận Quan Du, Khôi Sách (năm 1442), rồi tham gia chiếm đồn Đa Căng, Bồ Đăng, Trà Lân (1424). Từ những thành tích đó nên khi đất nước hoàn toàn giải phóng, ông được bổ nhiệm tham gia triều chính, phục vụ 2 triều vua là Lê Thái Tổ và Lê Thái Tông với chức Đô thống tham đốc tước Hoan quận công. Đến năm 1443 ông về trí sĩ, lúc đầu ông về Thổ Đôi trang, sau đó ông nối chí cha anh đi khai phá vùng Minh Cảo (nay là Quỳnh Minh, huyện Quỳnh Lưu). Ông tiếp tục tiến ra phía Bắc chiêu dân lập ấp tạo nên làng Đa Kỳ Nội và Đa Kỳ Ngoại ngày nay. Nhờ có bỗng lộc khi về trí sĩ, ông bà đã bỏ tiền, gạo cấp cho dân làng, ông trực tiếp qui hoạch và tổ chức dân phu đắp đê ngăn mặn tạo ra những cánh đồng hàng ngàn mẫu suốt bốn xã ngày nay là Quỳnh Minh, Quỳnh Lương, Quỳnh Bảng và Quỳnh Liên. Những làng này trở thành những làng trù phú nên đều mang tên gọi Phú Đa, Phú Thanh, Phú Minh, Phú Phong, Phú Lương, Phú Long (gọi là Lục Phú).

Ông bà sinh được hai người con trai đều là võ tướng triều Lê đó là ông Hồ Bá Nhàn và ông Hồ Hữu Trung. Cháu 16 đời của nguyên tổ Hồ Hưng Dật. Ông Hồ Bá Nhàn lấy vợ là bà Phan Thị Tuần, nối nghiệp cha làm quan võ giữ chức chánh đội trưởng, tước Diễn Lộc Hầu, Tráng vũ tướng quân trụ quốc (triều hậu Lê). Ông bà sinh được năm người con trai tất cả đều sinh sống tại Đa Kỳ (nay là xã Quỳnh Bảng, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An).

Người con trai thứ tư của ông Hồ Bá Nhàn là Hồ Trụ, là cháu 17 đời của nguyên tổ Hồ Hưng Dật, ông lấy vợ là bà Hoàng Thị Thục sinh ra hai người con trai là ông Hồ Phúc Tâm và Hồ Chân Tính (1440-1450). Theo phả hệ họ Hồ Việt Nam thì hai ông không ở Đa Kỳ (nay là xã Quỳnh Bảng, huyện Quỳnh Lưu) mà đi đâu không rõ, nhưng trong gia phả và sơ đồ tuế thứ ở Quỳnh Trang, Quỳnh Lưu, thì hai ông đi lính được sung vào quân vệ của chú là khâm sai tiết chế Nghệ An xứ Hồ Đình Trung. Ông Hồ Đình Trung từng nhiều lần nhận lệnh vua đi đánh Chiêm Thành, lập nhiều công lớn. Thời gian sau, vào thời Lê Thánh Tông (1470) vua tiếp tục sai ông đi đánh Chiêm Thành nhưng không thắng, vì khi vừa đem quân đến Chiêm Động (Quảng Nam) ông bị quân Chiêm Thành bao vây đánh úp, ông thua trận nên kéo quân về bờ bắc sông Thu Bồn dừng chân. Đây là vùng đất do Hồ Quý Ly năm 1402  chiếm  lại của Chiêm Thành và đặt tên là Thăng Hoa (sau nhà Nguyễn đổi thành Thăng Ba). Sau đó ông Hồ Đình Trung nhận lệnh đem quân về Bắc, hai ông được lệnh ở lại để cai quản tội nhân bị lưu đày, đi khai phá các làng mạc hoang tàn, vắng vẻ trong suốt thời gian chiến tranh giữa hai nước Chiêm – Việt. Một ông ở lại vùng Thăng Hoa, ông còn lại đi đâu không rõ.