Lịch sử

Lịch sử làng Gia Cốc

LỊCH SỬ LÀNG GIA CỐC (DA CỐC)

(THÔN ĐÔNG GIA VÀ TÂY GIA HIỆN NAY)

Theo tìm hiểu từ các tư liệu của các tộc hiện đang sinh sống tại làng Gia Cốc ( Ngày xưa gọi là Da Cốc. Nghĩa gộp của từ Da là cây da một loại cây thân nước, còn Cốc là hang động, vì hai bên bàu có nhiều cây da mọc hai bên trông rất um tùm mới nhìn như hang động. Trên các bia mộ cổ cũng ghi là làng Da Cốc, nhưng nay đã thay đổi địa danh thành Tây Gia và Đông Gia nên chúng ta dùng chữ Gia Cốc). Đây là vùng đất hoang sơ, cây cối rậm rạp, chưa có cư dân, vùng đất hoang sơ này trước đây là của Chiêm Thành. Vào năm 1306 vua Chiêm Thành là Chế Mân kết hôn với công chúa Huyền Trân dâng Châu Ô và Châu Rí làm lễ cưới, từ đó ranh giới nước Việt mở rộng đến bờ bắc sông Thu Bồn. Khi vua Chiêm Thành là Chế Mân chết, công chúa Huyền Trân được giải cứu trở về đất Việt thì chiến tranh Chiêm – Việt xảy ra triền miên. Có lúc quân Chiêm Thành đánh đến tận đất Hóa Châu (vùng Quảng Trị, Thừa Thiên), Thuận Hóa (vùng Quảng Bình). Từ đó vùng đất phía bắc sông Thu Bồn luôn luôn là địa bàn tranh chấp vì vậy, dân tình ly loạn triền miên từ năm 1402 đến 1446. Trong suốt 44 năm đó vùng đất từ nam Hải Vân đến bắc sông Thu Bồn dân cư (phần lớn là người Chiêm) thưa thớt, người Việt cũng ít di cư vào khai phá và sinh sống.

Cuối năm 1446 quân Đại Việt tiến quân đánh một trận lớn đến tận Chà Bàn (Qui Nhơn). Vua Chiêm là Bí Cai bị bắt, nhưng khi vừa dẫn tù binh và vua Bí Cai về đến Thăng Long thì vua Lê Nhân Tông ra lệnh thả về lại Chiêm Thành. Chính Sự Bao dung của vua Nhân Tông mà sau này người Chiêm không di tản đi nơi khác, mà họ ở lại, cùng người Việt từ bắc di cư vào, cùng nhau khai khẩn đồng hoang, tạo nên những làng ấp có dân cư đông đúc.

Mùa xuân năm 1470, một lần nữa vua Lê Thánh Tông cử đại binh vào chinh phạt Chiêm Thành, đánh từ Chiêm Động (Quảng Nam), Cổ Lũy (Quảng Ngãi), rồi tiến vào bao vây thành Đồ Bàn (Bình Định), vua Chiêm Thành là Trà Toàn bỏ chạy vào Phan Rang dâng sớ xin hàng. Từ đó vùng đất trù phú từ nam Hải Vân đến Quảng Nam mới được yên ổn, phong trào nam tiến càng lúc càng gia tăng.

Cuối năm 1470, sau khi củng cố lại chính quyền vùng đất mới, vua Lê Thánh Tông ban sắc chỉ qui định tội nhân ở châu gần thì sung vào quân vệ Thăng Hoa, ở châu ngoài thì sung vào quân vệ Tư Nghĩa, những kẻ được tha tội chết thì sung vào quân vệ Hoài Nhơn, Cũng từ đó những ông Hồ, Trần, Phan, Phạm chỉ huy quân vệ các Châu được điều vào bắt đầu công cuộc khai phá vùng đất vắng vẻ, hoang vu này.( Như đã nói ở trên hai ông người họ Hồ không rõ ông nào ở lại còn ông nào ra đi và đi đâu). Theo lời kể từ dân gian thì nơi đây là vùng đất rộng, chính giữa có một con bàu được bao bọc toàn là cây da loại cây thân nước  phủ kín xung quanh, mới nhìn trông giống như một hang động. Các ông liền hội ý phân tích, nhất trí đặt cho vùng đất đang khai phá là  Da Cốc. Từ vùng đất khai hoang Da Cốc theo thời gian nó trở thành làng Da Cốc và gắn liền với tên gọi của ba tộc là: tộc Trần Da Cốc, tộc Hồ Da Cốc, tộc Phan Da Cốc và tộc Phạm Da Cốc ngày xưa thuộc châu Thăng Hoa, sau này là tổng An Lễ, huyện Duy Xuyên, phủ Điện Bàn, bây giờ là hai thôn Đông Gia và Tây Gia xã Đại Minh, Huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, với tổng diên tích khai phá là hơn 600 mẫu ( 300 hecta ).

Qua tìm hiểu như ở trên và đối chiếu niên hạn mà cụ tổ tộc Hồ Gia Cốc đến đặt chân khai phá cùng các ông thỉ tổ của tộcTrần, tộc Phan, tộc Phạm là vào năm 1470, thì cụ tổ tộc Hồ Gia Cốc dự đoán ông là con ông Hồ Trụ cháu nội ông Hồ Bá Nhàn, gọi ông Hồ Hữu Nhân là ông cố và ông Hồ  Hồng là ông cao.

Một giả dụ khác nếu ông thỉ tổ tộc Hồ Gia Cốc không phải là một trong hai người con của ông Hồ Trụ thì cũng là một trong những người theo quân nhà Lê vào chinh phạt Chiêm Thành rồi ở lại khai phá, giống như trường hợp của ông tổ tộc Hồ Lệ Trạch cháu bốn đời của Hồ Quý Ly.

Nhưng dẫu lý luận nào chăng nữa thì làng Da Cốc xưa, nay là hai thôn Đông và Tây Gia  xã Đại Minh cũng ít nhiều hiểu rằng, làng Gia Cốc được các cụ tổ: Trần, Hồ, Phan, Phạm khai hoang, phát triển và lập nên. Bốn ông được dân làng thờ tự tại đình Gia Cốc nay thuộc thôn Tây Gia lễ tế vào ngày 16 tháng hai âm lịch hàng năm và nhà hội hương ở thôn Đông Gia lễ tế vào ngày 25 tháng chạp âm lịch hàng năm. TỪ ĐƯỜNG TỘC HỒ hiện tọa lạc tại thôn Đông Gia xã Đại Minh, nhưng người trong làng cũng như con cháu ông đến nay vẫn thường gọi là tộc Hồ Gia Cốc. Được các tộc Trần, Phan, Phạm và các chư tộc trong làng ghi nhận là một trong bốn vị tiền hiền của làng, đó là điều không thể nào phủ nhận. (Ngày giỗ tộc là ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm)

Trong chiến tranh ác liệt từ thập niên 60 đến 1975, làng quê bị tàn phá nhà Từ Đường bị hư hại. Đến năm 1979 được xây tạm lại trên nền nhà thờ cũ. Đến giữa năm 1999 với sự chủ xướng của các ông Hồ Tính, Hồ Thông, Hồ Tám, ông Hồ Trường đã đứng ra vận động con cháu trong và ngoài nước đồng tâm xây lại ngôi Từ đường khang trang như ngày nay.

Từ những tài liệu tìm được thì ông thỉ tổ Hồ Kha đời 13, ông Hồ Hồng đời 14 ông Hồ Hân, ông Hồ Hữu Nhân đời 15 ông Hồ Ước Lễ, ông Hồ Bá Nhàn, ông Hồ Hữu Trung đời 16, ông Hồ Đình Trung đời 17 đều có một thời làm quan từ các triều Trần, Lê. Có nhiều đóng góp tích cực phục vụ triều đình. Đặc biệt ông Hồ Khắc Cẩn đời 17 con trai ông Hồ Ước Lễ được vua Lê cử vào trấn giữ phương Nam, huy động nhiều con cháu vào khai hoang lập ấp nên triều đình nhà Lê truy sắc tặng  Ngài tổ Hồ Bá Điền của chúng ta là “Gia Cốc tiền hiền khai cư Hồ Đại Lang nẫm trứ linh ứng”. Đời Gia Long thứ 13 sắc truy phong là “Vi Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Thượng Đẳng Thần”. Bên cạnh đó, các tộc Trần, tộc Phan, tộc Phạm cũng được truy sắc và cùng được thờ tự tại đình làng Gia Cốc.

Song song với những phẩm tước trên, Đời Gia Long 13 còn xét thành tích tộc Hồ đã cùng các vị tổ Trần, Phan, Phạm chiêu dân lập ấp, gặp nhiều gian khó, thiên tai dịch bệnh, thiếu thốn trăm bề trong công cuộc tạo lập nên làng Gia Cốc. Vì vậy, năm Gia Long thứ 13 còn lập châu bộ điền thổ của làng, xét công lao để cấp ruộng đất cho những người có công, trong đó tộc Hồ cũng được cho đứng bộ nhiều điền thổ, sau này được chia cho các chi phái, cụ thể như: phái nhất ông Hồ Đình Bảo đứng bộ các điền thổ tại Mã Canh, Tây Gia, phái nhì ông Hồ Đình Trì đứng bộ tại Thổ Lự, Tây Gia, phái ba ông Hồ Đình Hiến đứng bộ các cơ sở điền thổ tại Cán Cờ cũng thuộc Tây Gia xã Đại Minh bây giờ.

Như vậy, từ các tư liệu trên, cho ta thấy được rằng, dòng tộc của chúng ta không phải xuất phát từ những nơi, mà trước đây chúng ta thường nghe qua lời truyền miệng, tuy chưa đầy đủ nhưng cũng giải tỏa được hoài nghi mà con cháu chúng ta trước đây cứ mơ hồ về nguồn gốc. Nhưng dẫu sao, trên cơ sở đất ruộng được phân chia dưới thời vua Gia Long cũng cho ta thấy rằng, tổ tiên ta ngày xưa là những người có công trong việc mở mang bờ cõi, di dân lập ấp. Để con cháu chúng ta ngày nay có được niềm tự hào và hãnh diện. Do đó tất cả các con cháu chúng ta các đời sau, cần nỗ lực thi đua học tập, rèn luyện tri thức, trau dồi đạo đức, để xứng đáng với các bậc tiền nhân. Người đã cống hiến cả cuộc đời mình, trong công cuộc mở mang, xây dựng và bảo vệ đất nước.

Do hậu quả của chiến tranh từ đường tộc Hồ đổ nát và hoang tàn theo cuộc bể dâu, cuốn Gia Phả bị thất lạc, nên con cháu ngày một mơ hồ, lẫn lộn, xa cách. Từ những nguyên nhân đó mà ngày nay cháu 14 đời của thỉ tổ Hồ Bá Điền là ông  Hồ Văn Bốn và ông Hồ Văn Trường, đã dựa trên cơ sở những tư liệu của ông Hồ Lợi (ông Tư Xiêm), lập nên cuốn Gia Phả này để con cháu đời sau biết và lưu giữ. Tuy chưa đầy đủ nhưng một thời gian nào đó sẽ lần lược bổ sung cho cuốn Gia Phả được hoàn chỉnh hơn.

Từ những suy nghĩ trên, yêu cầu con cháu các đời sau thường xuyên bổ sung để cuốn Gia Phả ngày càng dày thêm theo thời gian và đầy đủ về thứ lớp, các đời sau, phải có trách nhiệm lưu truyền và gìn giữ. Mong rằng, mỗi năm đến ngày giỗ tộc 10 tháng 3 âm lịch con cháu họp lại để trao đổi và bổ sung việc sanh, tử. Đây là việc làm thường xuyên không được bỏ sót. (Trước đây giỗ tộc ngày 16/3 âm lịch nhưng để thuận tiện cho con cháu, vì ngày 10/3 âm lịch là ngày giỗ tổ Hùng Vương mọi người được nghỉ lễ nên Hội đồng gia tộc đổi lại 10/3 âm lịch).

Trên đây là những tư liệu sưu tầm từ các tài liệu của phả hệ tộc Hồ Việt Nam, của tộc Hồ Quỳnh Lưu, Nghệ An, tộc Hồ Thanh Hóa, tộc Hồ Lệ Trạch, Duy Xuyên, tộc Hồ Bồ Bảng, Hòa Phong, tộc Hồ Cẩm Sa, Điện Bàn, tộc Phan Đà Sơn, tộc Trần và tộc Phan, tộc Phạm Gia Cốc. Cùng một số tư liệu của các cụ cao niên hiện đang sống ở làng và đặc biệt là tài liệu quan trọng mà ông Hồ Lợi để lại.

Trong quá trình tìm tòi sao lục chắc chắn còn nhiều thiếu sót, rất mong bà con thông cảm và bổ sung.